Chào mừng quý vị đến với website của Thân Thị Thuý Mơ
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CHÚC MỪNG SINH NHẬT
TRÒ CHUYỆN CÙNG THÚY MƠ
Bài học đầu tiên

Quê tôi, một vùng đất ven biển miền Trung đầy nắng và gió. Nơi ấy, đã đi vào thơ ca bởi cái nghiệt ngã của gió lào và cát trắng. “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình”. Nhà thơ Tố Hữu đã viết như thế trong bài thơ Mẹ Suốt.
Làng tôi, cách sân bay Đồng Hới không xa. Những năm tháng chiến tranh chống Mĩ cứu nước, sân bay Đồng Hới chỉ là sân bay quân sự dã chiến. Thỉnh thoảng, mới có một vài máy bay chiến đấu của ta hạ cánh tiếp nhiên liệu. Mục tiêu đánh phá điên cuồng của Đế quốc Mĩ vào Miền Bắc nói chung và sân bay Đồng Hới nói riêng đã biến nơi đây thành một túi bom.Đạn pháo từ Hạm đội ngoài khơi của giặc nả vào, bom từ trên trời dội xuống, mặt đất chẳng mấy lúc được bình yên.
Tôi sinh ra và lớn lên trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy. Sự sống, cái chết gần nhau trong gang tấc song chẳng làm nhụt chí người dân quê tôi. Dân trong làng lúc bấy giờ chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ nhỏ.Thanh niên, trai tráng ra mặt trận gần hết , ban ngày làng xóm vắng teo. Nhìn xóm làng xác xơ, nhà cửa tan hoang sau những trận bom, đạn pháo của giặc chẳng ai hình dung được cuộc sống ở đây tồn tại như thế nào, bằng cách nào?. Vậy nhưng, cuộc sống ở đây vẫn thế, người dân vừa bám ruộng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Lúc hoàng hôn buông xuống cũng là lúc mọi người bắt tay vào việc: Người san lấp hố bom, kẻ dựng nhà. Phụ nữ ra đồng cày cấy, trẻ con gọi nhau học bài, tiếng cuốc, xẻng, tiếng chặt cây, tiếng gọi nhau í ới râm ran cả một vùng. Mặc cho đâu đó tiếng đại bác vẫn nổ ùng oằng, tiếng máy bay gào rít, thả pháo sáng xanh lè xé toạc cả bầu trời. Trẻ con vẫn đến trường sau những giờ oanh tạc của máy bay địch. Con đường đến trường là một hệ thống giao thông hào nối từ nhà này đến nhà khác, đường rất ngoằn nghoèo vì phải lách qua những bụi tre. Mùa thu năm 1969 tôi vừa tròn 7 tuổi.Từ đó đến nay đã 40 năm trôi qua nhưng kỷ niệm ngày đầu tiên đến lớp, kỷ niệm về cô giáo còn trong tôi như mới hôm nào.
Như bao đứa trẻ khác ngày đầu đến trường là ngày trọng đại nhất, tôi xúng xính trong bộ quần áo mới, cặp sách mới. Nói là mới cho oai chứ thực ra bộ quần áo này được Nội cắt, may lại từ bộ quần áo cũ của mẹ. Mẹ tôi lúc đó đi học y sĩ nghe đâu mãi tận Phú Thọ, còn ba tôi nhập ngũ đóng quân ở vùng Roòn, Cảnh Dương. Chiếc cặp tôi mang là sản phẩm tạo ra từ chéo dù rằn ri của Mĩ mà ba tôi nhặt được đem về làm quà nhân một chuyến công tác qua nhà. Nội bảo:
- “Cặp ni vừa đựng sách vở vừa để máy bay thằng Mĩ khỏi chộ cháu mang cặp sáng quá hắn chộ, hắn ném bom thì chết cháu ạ !”.
Mang niềm vui hồn nhiên trẻ thơ tôi cùng các bạn đến lớp.
Lớp vở lòng của tôi (hồi đó gần tương đương với lớp Một bây giờ) nằm chính giữa làng, nó được dựng lên từ tranh tre, nứa lá của người dân trong làng nhặt nhạnh lại. Nhà lá làm kiểu nữa chìm, nữa nổi còn gọi là nhà hầm. Nhà hầm được nối với hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn ở các cửa ra vào trước và sau. Đón chúng tôi là một cô giáo trẻ chắc mới ra trường khoảng 20, 21 tuổi. Da trắng mịn màng, dáng thon thả, mái tóc quăn tự nhiên bồng bềnh ôm gọn khuôn mặt xinh xắn, cô có nụ cười rất tươi và đặc biệt mắt cô long lanh sáng. Cô nhìn chúng tôi cái nhìn ấm áp, gần gủi và đầy thân thiện. Trong mắt một đứa trẻ như tôi, cô giáo như một cô tiên bước ra từ quả thị thơm trong truyện cổ tích Tấm Cám mà nội tôi vẫn thường kể mỗi khi tôi sợ máy bay và khóc đòi mẹ. Đang ngỡ ngàng với những cảm xúc mới lạ, hồi hộp và bẽn lẽn thì đột nhiên kẻng báo động vang lên liên hồi, gióng dã báo hiệu máy bay địch đến. Một chiếc máy bay phản lực của giặc từ đâu chui ra bay lên, nhào xuống, gầm rú rung chuyển cả bầu trời.
- Tất cả các em chạy mau vào hầm trú ẩn.
Mệnh lệnh sắc, gọn phát ra từ phía cô giáo trong lúc tôi đang loay hoay với chiếc cặp của mình chưa biết phải làm thế nào. Thì….Rầm! Trời đất như ụp xuống, đất đá bắn tung tóe, mắt tôi hoa lên, hai tai ù đặc.Bom ngớt, máy bay giặc sau khi trút bom và bị pháo 12 ly7 của ta bắn tơi bời đã tìm đường chuồn thẳng. Tôi không giám cựa quậy, không giám mở mắt vì tôi rất sợ những gì tôi sẽ thấy, những gì tôi phải chứng kiến rất đổi sợ hãi đối với tôi sau mỗi trận bom. Rồi tiếng trẻ con khóc, tiếng bước chân người lớn chạy thình thịch, sau một phút bàng hoàng tôi chợt cảm nhận được hơi ấm tỏa ra từ thân thể ai đó đang đè trên người tôi. Không hiểu sao lúc đó tôi nghĩ rằng đó là mẹ. Không! ý nghĩ chợt vụt tắt vì tôi biết mẹ đang ở xa, xa lắm, vậy là ai?. Trời ơi, là cô giáo!.Cô đã ôm lấy tôi, che chở cho tôi bằng phản xạ nhạy bén của người mẹ, bây giờ cô nằm đó lặng yên và bất động. Đám trẻ sau một hồi trấn tĩnh, nhào ra ôm lấy cô khóc rất to.Các cô chú cứu thương cũng vừa kịp đến nhanh chóng đưa cô đi cấp cứu, còn chúng tôi được đưa về nơi trú ẩn an toàn. Lúc đó, tôi không còn sợ bom, sợ đạn nữa chỉ sợ mất cô: “Mong cô của tôi đừng bị thương, đừng…đừng sao cả để mau chóng trở về với chúng tôi”. Tôi cảm thấy ân hận giá như nghe lời cô giáo, chạy thật nhanh xuống hầm trú ẩn, đừng luyến tiếc chiếc cặp, giá như…giá như… nỗi lo sợ bị mất cô cùng với sự dằn vặt trẻ thơ làm cho tôi khóc ròng mấy ngày đêm. Cũng may trận bom hôm đó lớp tôi bị sập nhưng không bị thương vong về người. Cô giáo tôi bị sức ép của bom nên ngất đi, chảy máu tai, mũi, được các bác sĩ tận tình cứu chữa nên mười ngày sau cô cũng được ra viện.Hôm về lại lớp, cầm trên tay bó hoa dại chúng tôi hái trên đường đến trường đem tới tặng, cô rưng rưng nước mắt:
- Được về với các em cô mừng lắm rồi, thà cô hi sinh thân mình chứ không để các em bị thương !
Tôi tự hứa với lòng mình “Cám ơn cô, cô đã bất chấp hiểm nguy để cứu em, cô là người mẹ thứ hai đã sinh ra em lần nữa”. Và sâu thẳm tận đáy lòng tôi thốt lên tiếng gọi “Mẹ” trìu mến và ấm áp.
Sau lần ấy, không ai bảo ai, chúng tôi ai nấy đều chăm chỉ học tập, nghe lời cô giáo dạy. Tấm gương sáng về lòng dũng cảm, đức hy sinh, “Tất cả vì học sinh thân yêu” của cô giáo làm hành trang đi theo tôi suốt cả cuộc đời.
Theo bước chân cô, lớn lên tôi vào sư phạm. Đến nay, bốn mươi chín tuổi đời, ba mươi năm tuổi nghề, cuộc đời cũng đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm. Những năm còn bao cấp, nghề giáo còn nhiều khó khăn, vất vả nhiều người phải bỏ nghề, thôi việc để kiếm sống bằng nghề khác. Nhiều lúc cuộc sống thiếu trước, hụt sau cũng làm cho tôi có chút lung lay nhưng khi nghĩ về cô, về các thầy cô giáo đã hy sinh một phần xương máu của mình vì một tương lai của dân tộc, vì một thế hệ ngày mai, mặc cho bom rơi, đạn nổ, không quản ngày đêm, không màng danh lợi, họ vẫn say sưa, chung thủy với nghề, trong tôi như được tiếp thêm sức mạnh giúp tôi vượt qua những chặng đường khó khăn nhất của cuộc sống. Noi gương cô, ngày đêm tôi miệt mài phấn đấu để xúng đáng là học trò ngoan của cô, xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
Xin gửi đến cô những tình cảm sâu sắc, những lời tri ân tận sâu thẳm đáy lòng mình.Trong em, cô mãi mãi là người mẹ hiền, là người cô suốt đời em kính trọng. Bài học đầu tiên cô đã là dạy là tấm gương sáng để suốt đời này em mãi mãi soi theo.Bùi Thị Hải Yến @ 10:48 28/10/2011
Số lượt xem: 587

Các ý kiến mới nhất