Chào mừng quý vị đến với website của Thân Thị Thuý Mơ
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CHÚC MỪNG SINH NHẬT
QUÀ CỦA ANH HAI TUẤN
TRÒ CHUYỆN CÙNG THÚY MƠ
Gốc > Nhà thơ nổi tiếng Việt Nam >
Thân Thị Thuý Mơ @ 20:39 02/12/2011
Số lượt xem: 903
Xuân Diệu
Xuân Diệu - Cuộc đời và những tập thơ
Xuân Diệu

Xuân Diệu (2 tháng 2, 1916 - 18 tháng 12, 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam (1942).
Sau khi theo đảng (1945), thơ ông chủ yếu ca ngợi đảng lao động, Hồ Chí Minh, thơ tình của ông không còn được biết đến nhiều như trước.
Ngoài làm thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn, nhà báo, nhà bình luận văn học.
Tiểu sử, sự nghiệp
Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp.
Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.
Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam[1].
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", "ông hoàng của thơ tình".
Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945).
Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh. (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.
Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân". Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983).
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.
Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.
Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
Tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội.

(Huy Cận và Xuân Diệu)
Đời sống riêng
Xuân Diệu đã lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung. Sau khi ly dị ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985. Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân. Vợ của Huy Cận, bà Ngô Xuân Như là em gái của Xuân Diệu. Có người cho rằng Xuân Diệu cùng với Huy Cận là hai nhà thơ đồng tính luyến ái[3]. Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm. Những bài thơ "Tình trai", "Em đi" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy Cận được cho là viết về đề tài đó. Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc này.

(Bạch Diệp)
Câu nói nổi tiếng
Trong tập Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa ghi lại câu nói của Xuân Diệu:
"Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết."
Tác phẩm
Thơ
* Thơ thơ (1983, 1939, 1968, 1970)
* Gửi hương cho gió (1945, 1967)
* Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961)
* Hội nghị non sông (1946)
* Dưới sao vàng (1949)
* Sáng (1953)
* Mẹ con (1954)
* Ngôi sao (1955)
* Riêng chung (1960)
* Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962)
* Một khối hồng (1964)
* Hai đợt sóng (1967)
* Tôi giàu đôi mắt (1970)
* Hồn tôi đôi cánh (1976)
* Thanh ca (1982)
Văn xuôi
* Phần thông vàng (1939, truyện ngắn)
* Trường ca (1945, bút ký)
* Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký)
* Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký)
* Việt Nam trở dạ (1948, bút ký)
* Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký)
* Triều lên (1958, bút ký)
Tiểu luận phê bình
* Thanh niên với quốc văn (1945)
* Tiếng thơ (1951, 1954)
* Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký)
* Ba thi hào dân tộc (1959)
* Phê bình giới thiệu thơ (1960)
* Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961)
* Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961)
* Dao có mài mới sắc (1963)
* Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966)
* Đi trên đường lớn (1968)
* Thơ Trần Tế Xương (1970)
* Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971)
* Và cây đời mãi xanh tươi (1971)
* Mài sắt nên kim (1977)
* Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978)
* Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982)
* Tìm hiểu Tản Đà (1982).
Dịch thơ
* Thi hào Nadim Hitmet (1962)
* V.I. Lênin (1967)
* Vây giữa tình yêu (1968)
* Việt Nam hồn tôi (1974)
* Những nhà thơ Bungari (1978, 1985)
* Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982)
Vài tấm hình:
(Bạch Diệp)
(Xuân Diệu và con nuôi Cù Huy Hà Vũ)

Xuân Diệu (2 tháng 2, 1916 - 18 tháng 12, 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam (1942).
Sau khi theo đảng (1945), thơ ông chủ yếu ca ngợi đảng lao động, Hồ Chí Minh, thơ tình của ông không còn được biết đến nhiều như trước.
Ngoài làm thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn, nhà báo, nhà bình luận văn học.
Tiểu sử, sự nghiệp
Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp.
Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.
Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam[1].
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", "ông hoàng của thơ tình".
Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945).
Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh. (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.
Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân". Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983).
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.
Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.
Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
Tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội.
(Huy Cận và Xuân Diệu)
Đời sống riêng
Xuân Diệu đã lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung. Sau khi ly dị ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985. Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân. Vợ của Huy Cận, bà Ngô Xuân Như là em gái của Xuân Diệu. Có người cho rằng Xuân Diệu cùng với Huy Cận là hai nhà thơ đồng tính luyến ái[3]. Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm. Những bài thơ "Tình trai", "Em đi" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy Cận được cho là viết về đề tài đó. Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc này.

(Bạch Diệp)
Câu nói nổi tiếng
Trong tập Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa ghi lại câu nói của Xuân Diệu:
"Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết."
Tác phẩm
Thơ
* Thơ thơ (1983, 1939, 1968, 1970)
* Gửi hương cho gió (1945, 1967)
* Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961)
* Hội nghị non sông (1946)
* Dưới sao vàng (1949)
* Sáng (1953)
* Mẹ con (1954)
* Ngôi sao (1955)
* Riêng chung (1960)
* Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962)
* Một khối hồng (1964)
* Hai đợt sóng (1967)
* Tôi giàu đôi mắt (1970)
* Hồn tôi đôi cánh (1976)
* Thanh ca (1982)
Văn xuôi
* Phần thông vàng (1939, truyện ngắn)
* Trường ca (1945, bút ký)
* Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký)
* Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký)
* Việt Nam trở dạ (1948, bút ký)
* Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký)
* Triều lên (1958, bút ký)
Tiểu luận phê bình
* Thanh niên với quốc văn (1945)
* Tiếng thơ (1951, 1954)
* Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký)
* Ba thi hào dân tộc (1959)
* Phê bình giới thiệu thơ (1960)
* Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961)
* Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961)
* Dao có mài mới sắc (1963)
* Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966)
* Đi trên đường lớn (1968)
* Thơ Trần Tế Xương (1970)
* Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971)
* Và cây đời mãi xanh tươi (1971)
* Mài sắt nên kim (1977)
* Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978)
* Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982)
* Tìm hiểu Tản Đà (1982).
Dịch thơ
* Thi hào Nadim Hitmet (1962)
* V.I. Lênin (1967)
* Vây giữa tình yêu (1968)
* Việt Nam hồn tôi (1974)
* Những nhà thơ Bungari (1978, 1985)
* Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982)
Vài tấm hình:
(Bạch Diệp)
(Xuân Diệu và con nuôi Cù Huy Hà Vũ)--- Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông ---

Ghost- Site Admin
- Bài viết: 19
- Ngày tham gia: 02 Tháng 3 2009, 00:47
Một số tác phẩm của Xuân Diệu
Anh đã giết em
Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh
Từ đây anh không được yêu em ở trong sự thật
Một cái gì đã qua, một cái gì đã mất
Ta nhìn nhau, bốn mắt biết làm sao ?
Ôi! Em mến yêu! Em vẫn là người anh yêu mến nhất
Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt
Tim anh vẫn đập như vấp thời gian
Nhớ bao nhiêu yêu mến nồng nàn,
Nhớ đoạn đời hai ta rạng rỡ
Nhớ trời đất cho anh mở
Nhớ
Muôn thuở thần tiên.
Ôi! Xa em, anh rơi vào vực không cùng
Đời anh không em, lạnh lùng tê buốt
Nhưng còn anh, còn em, mà đôi ta đã khác
Ta: hai người xa lạ - phải đâu ta!
Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh
Đêm nào anh cũng đi quanh em mà khóc
Anh vẫn ước được em tha thứ
Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu
Thế mà tại sao ta vẫn xa nhau ?
Tại em cố chấp
Tại anh đã mất
Con đường đi tới trái tim em
Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến.
Em đã giết anh rồi, em vứt xác anh đâu.
Anh là người bạc bẽo
Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo,
Em yêu rồi, anh đã vội quên ngay
Mới hôm kia tình tự đến mê say
Sang bữa nay anh làm như mất hết
Anh đòi mãi như một kẻ keo kiệt,
Trong hồn anh tình ái chẳng lâu sao?
Anh không chắt chiu dành dụm tí nào,
Là đất xấu hạt gieo không nảy nở
Nên anh mới luôn luôn nghèo khổ
Giận hờn như anh chẳng được em yêu
Mà thật ra em yêu dấu rất nhiều
Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo.
Anh thương em khi ngủ
Anh thương em khi ngủ
Phong thái rất hồn nhiên
Em ngủ như trẻ nhỏ
Ngon say một giấc liền
Tay em thả xuôi xuôi
Như bay vào cõi mộng
Mắt em khép dài dài
Dưới trán em lồng lộng
Em nằm in trẻ nhỏ
Trong chiếc võng yêu thương
Anh dệt giăng khắp chỗ
Trong phòng, quanh quất giường.
Anh thức nhìn em ngủ
Anh canh giấc cho em
Anh lắng nghe nhịp thở
Ngực em đều xuống lên.
Trở mình tay ấp má
Anh thương em dáng người
Tin cậy vào cuộc sống
Tin ở anh trong đời
Sau một ngày đẫy việc
Chúc em tôi giấc lành
Anh vô cùng sung sướng
Nếu em mơ thấy anh.
(17-9-1966)
Anh về Ấm Thượng...
Anh về Ấm Thượng tìm em,
Nhà gianh một túp, hương đêm một vùng.
Bóng xanh vườn nhãn um tùm,
Khói ngưng mặt nước, sương trùm đầu non
Anh về Ấm Thượng thăm em,
Gọi tên yêu, khẽ gõ rèm cọ khô,
Em đang thức ngủ mơ hồ
Tưởng rằng anh ở trong mơ gọi thầm.
Thấy anh, em xiết nỗi mừng
Nhìn em, gương mặt sáng bừng đêm khuya.
Làng không một tiếng chân đi,
Trái tim ta chuyện thầm thì cùng nhau.
Đêm về Ấm Thượng chưa lâu,
Núi sông, cây cỏ nhuộm màu thần tiên,
Chỉ cần một ánh nhen lên,
Một lời ý hiệp nên thiên sử tình.
Ở ngoài vạn lý
Ở ngoài vạn lý thương em,
Anh đi vạn lý nhìn xem chân trời!
Tấm thân vàng ngọc xa vời,
Nhớ nhà, nhớ nước, liên hồi nhớ em.
Hai tuần đã nhói trong tim
Những chiêm bao mặt lại chiêm bao hồn;
Chiêm bao nhớ dập thương dồn,
Nửa đêm vạn lý hãy còn tìm nhau
Ứơc chi đôi phút qua mau
Thấy em một chút đỡ sầu cách xa
Một phần trái đất bao la
Hai hôm cất cánh đã qua muôn trùng.
Thư nhà anh vẫn đợi trông
Chữ tay em viết, sóng lòng em trao
Canh khuya thương nhớ khát khao
Em ơi, vạn lý lòng hao đêm dài...
Đa tình
Nghìn buổi sáng, bình minh xe chỉ thắm
Đem lòng tôi ràng rịt với xuân tươi.
Thuở xưa kia là con của mặt trời,
Tôi có lửa ở trong mình nắng đọng.
Đời muốn chữa cho tôi lành bệnh sống,
Đem tuyết sương lời lẽ buốt vào gan;
Tuyết sương mòn, băng giá phải trôi tan,
Tôi là lửa chẳng bao giờ biết nguội.
Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi
Lúc chưa sinh, vơ vẩn giữa vòng đời;
Tôi đã yêu khi đã hết tuổi rồi,
Không xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng.
Vào đêm tối tôi sẽ làm đuốc sáng
Rọi u minh tỏ rạng ánh hồn sâu;
Đến ru thơ bao kẻ hãy buồn đau;
Tìm ấp mộng những hồn sầu rã mục.
Hồn đông thế, tôi sợ gì cô độc!
Ma với nhau thì ôm ấp cùng nhau.
Chuyện yêu đương bấy giờ đã hết đâu,
Niềm tâm sự vẫn còn như thuở sống.
Trong cõi lòng lan đi bao ấm nóng,
Giữa hồn thường thắm thiết một ma thơ
Đem nhớ nhung an ủi dưới trăng mờ,
Và trong gió phất phơ đi có bạn...
Kẻ đa tình không cần đủ thịt da;
Khi chết rồi thì tôi sẽ yêu ma.
Đời anh, em đã đi qua...
Đời anh em đã đi qua
Sáng thơm như một luồng hoa giữa đời
Hiểu làm sao hết em ơi
Bốn năm kì diệu đất trời nhờ em
Ngôi nhà, cánh cổng trái tim
Khóm cây, con mắt ngày đêm đón mừng
Em đi, anh ngóng trông chừng
Anh về, miệng đã gọi lừng: em ơi!
Bữa ăn thành một hội vui
Có em gắp với, rau thôi cũng tình;
Cảnh thường cũng hoá ra xinh;
Có em, anh hết ngẫm mình bơ vơ
Bốn năm đầm ấm say sưa
Tình yêu có biết hạn bờ nào đâu
Bốn năm nhưng cũng qua mau
Cõi trần ai có ở lâu thiên đường;
Giã từ, từ biệt đôi phương
Đôi nơi, đôi ngả, đôi đường: khổ anh!
Bốn năm, lại khép trời xanh
Nhớ em như một mộng lành mà thôi
Từ đây anh lại trong đời
Bữa cơm ngồi với một đôi đũa cầm;
Giường kia một bóng anh nằm;
Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều.
Muôn vàn cảm tạ em yêu
Chất cho anh biết bao nhiêu ân tình
Ai hay anh đã để dành
ánh hương một thuở, thơm thanh suốt đời
Sống bằng nhớ lại nguồn vui
Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em...
Đứa con của tình yêu
Anh ước đôi ta có con
Con giống em đẹp nhìn không chán
Giống đôi mắt, giống hình gương trán
Con mang tình xán lạn đôi ta
Con giống em, con cũng giống cha
Giống cái mũi thật thà thẳng sống
Nhìn gần giống trông xa cũng giống,
Cũng mái đầu dợn sóng Qui Nhơn.
Nhưng con ta nó giống em hơn
Giống đi đứng, nghĩ suy, ăn nói,
Duy chẳng giống cái nư khi dỗi
Lúc em hờn, trời cũng phải thua.
Muốn hoà kẽ tóc với chân tơ,
Muốn thịt xương ta nở vạn mùa
Em hỡi! Đứa con tình ái ấy
"Tình yêu chưa đã, mến chưa bưa"
Đứng chờ em
Trong buổi chiều hôm bóng nhá nhem
Anh ra trước cổng đứng chờ em
Nhận từng vóc dáng từ xa tới
Lọc lấy một hình anh thuộc quen.
Anh thấy ai ai cũng vội vàng
Như chim hôm thoi thót về rừng
Người đi xe đạp đăm chiêu lắm
Nghĩ bếp nhà đang lửa bập bùng.
Anh cũng chăm xong cái bếp nhà
Tâm thành cơm nước dọn bưng ra
Một tuần mong đến hôm nay tiếp
Vào bát cho em vị đậm đà
Nhưng bóng hoàng hôn đặc lại rồi
Hình em anh thuộc thế mà - ôi!
Mấy phen suýt nữa reo "Em đến"
Lại ủi an lòng: "Hãy đợi thôi!"
Anh đứng như trồng, chẳng chịu đi
Nhớ nhung vun được đức kiên trì
Anh nhìn nét mặt người qua vội
Thông cảm muôn đời những biệt li.
Nếu thức ăn kia gắp một mình,
Tủi lòng, anh vẫn vững lòng tin.
Thương em vất vả, anh quên hết
Nỗi khổ mong chờ cháy dạ anh.
(18-3-1976)
Đàn
Em nâng đàn tới ngang mày
Và em hạ xuống vừa tay, ôm đàn
Ngón tay em nhạc chứa chan
Mến tuôn trên phím, yêu tràn vào dây.
Lâng lâng hồn nhạc hây hây
Đôi ta chắp cánh bạn bầy cùng mơ
Chim reo trong khoảng hoa thưa...
Suối tuôn róc rách, trăng vừa lên cao...
Tình cảm ấy, ước mơ nào,
Bíttôven với ngọt ngào Môda
Tay em thoắt biến thành hoa,
Hồn em lắng lại như là tặng anh.
Những khi xa cách một mình,
Nhớ đàn em, nhớ hồn thanh cây đàn
Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh
Từ đây anh không được yêu em ở trong sự thật
Một cái gì đã qua, một cái gì đã mất
Ta nhìn nhau, bốn mắt biết làm sao ?
Ôi! Em mến yêu! Em vẫn là người anh yêu mến nhất
Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt
Tim anh vẫn đập như vấp thời gian
Nhớ bao nhiêu yêu mến nồng nàn,
Nhớ đoạn đời hai ta rạng rỡ
Nhớ trời đất cho anh mở
Nhớ
Muôn thuở thần tiên.
Ôi! Xa em, anh rơi vào vực không cùng
Đời anh không em, lạnh lùng tê buốt
Nhưng còn anh, còn em, mà đôi ta đã khác
Ta: hai người xa lạ - phải đâu ta!
Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh
Đêm nào anh cũng đi quanh em mà khóc
Anh vẫn ước được em tha thứ
Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu
Thế mà tại sao ta vẫn xa nhau ?
Tại em cố chấp
Tại anh đã mất
Con đường đi tới trái tim em
Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến.
Em đã giết anh rồi, em vứt xác anh đâu.
Anh là người bạc bẽo
Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo,
Em yêu rồi, anh đã vội quên ngay
Mới hôm kia tình tự đến mê say
Sang bữa nay anh làm như mất hết
Anh đòi mãi như một kẻ keo kiệt,
Trong hồn anh tình ái chẳng lâu sao?
Anh không chắt chiu dành dụm tí nào,
Là đất xấu hạt gieo không nảy nở
Nên anh mới luôn luôn nghèo khổ
Giận hờn như anh chẳng được em yêu
Mà thật ra em yêu dấu rất nhiều
Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo.
Anh thương em khi ngủ
Anh thương em khi ngủ
Phong thái rất hồn nhiên
Em ngủ như trẻ nhỏ
Ngon say một giấc liền
Tay em thả xuôi xuôi
Như bay vào cõi mộng
Mắt em khép dài dài
Dưới trán em lồng lộng
Em nằm in trẻ nhỏ
Trong chiếc võng yêu thương
Anh dệt giăng khắp chỗ
Trong phòng, quanh quất giường.
Anh thức nhìn em ngủ
Anh canh giấc cho em
Anh lắng nghe nhịp thở
Ngực em đều xuống lên.
Trở mình tay ấp má
Anh thương em dáng người
Tin cậy vào cuộc sống
Tin ở anh trong đời
Sau một ngày đẫy việc
Chúc em tôi giấc lành
Anh vô cùng sung sướng
Nếu em mơ thấy anh.
(17-9-1966)
Anh về Ấm Thượng...
Anh về Ấm Thượng tìm em,
Nhà gianh một túp, hương đêm một vùng.
Bóng xanh vườn nhãn um tùm,
Khói ngưng mặt nước, sương trùm đầu non
Anh về Ấm Thượng thăm em,
Gọi tên yêu, khẽ gõ rèm cọ khô,
Em đang thức ngủ mơ hồ
Tưởng rằng anh ở trong mơ gọi thầm.
Thấy anh, em xiết nỗi mừng
Nhìn em, gương mặt sáng bừng đêm khuya.
Làng không một tiếng chân đi,
Trái tim ta chuyện thầm thì cùng nhau.
Đêm về Ấm Thượng chưa lâu,
Núi sông, cây cỏ nhuộm màu thần tiên,
Chỉ cần một ánh nhen lên,
Một lời ý hiệp nên thiên sử tình.
Ở ngoài vạn lý
Ở ngoài vạn lý thương em,
Anh đi vạn lý nhìn xem chân trời!
Tấm thân vàng ngọc xa vời,
Nhớ nhà, nhớ nước, liên hồi nhớ em.
Hai tuần đã nhói trong tim
Những chiêm bao mặt lại chiêm bao hồn;
Chiêm bao nhớ dập thương dồn,
Nửa đêm vạn lý hãy còn tìm nhau
Ứơc chi đôi phút qua mau
Thấy em một chút đỡ sầu cách xa
Một phần trái đất bao la
Hai hôm cất cánh đã qua muôn trùng.
Thư nhà anh vẫn đợi trông
Chữ tay em viết, sóng lòng em trao
Canh khuya thương nhớ khát khao
Em ơi, vạn lý lòng hao đêm dài...
Đa tình
Nghìn buổi sáng, bình minh xe chỉ thắm
Đem lòng tôi ràng rịt với xuân tươi.
Thuở xưa kia là con của mặt trời,
Tôi có lửa ở trong mình nắng đọng.
Đời muốn chữa cho tôi lành bệnh sống,
Đem tuyết sương lời lẽ buốt vào gan;
Tuyết sương mòn, băng giá phải trôi tan,
Tôi là lửa chẳng bao giờ biết nguội.
Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi
Lúc chưa sinh, vơ vẩn giữa vòng đời;
Tôi đã yêu khi đã hết tuổi rồi,
Không xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng.
Vào đêm tối tôi sẽ làm đuốc sáng
Rọi u minh tỏ rạng ánh hồn sâu;
Đến ru thơ bao kẻ hãy buồn đau;
Tìm ấp mộng những hồn sầu rã mục.
Hồn đông thế, tôi sợ gì cô độc!
Ma với nhau thì ôm ấp cùng nhau.
Chuyện yêu đương bấy giờ đã hết đâu,
Niềm tâm sự vẫn còn như thuở sống.
Trong cõi lòng lan đi bao ấm nóng,
Giữa hồn thường thắm thiết một ma thơ
Đem nhớ nhung an ủi dưới trăng mờ,
Và trong gió phất phơ đi có bạn...
Kẻ đa tình không cần đủ thịt da;
Khi chết rồi thì tôi sẽ yêu ma.
Đời anh, em đã đi qua...
Đời anh em đã đi qua
Sáng thơm như một luồng hoa giữa đời
Hiểu làm sao hết em ơi
Bốn năm kì diệu đất trời nhờ em
Ngôi nhà, cánh cổng trái tim
Khóm cây, con mắt ngày đêm đón mừng
Em đi, anh ngóng trông chừng
Anh về, miệng đã gọi lừng: em ơi!
Bữa ăn thành một hội vui
Có em gắp với, rau thôi cũng tình;
Cảnh thường cũng hoá ra xinh;
Có em, anh hết ngẫm mình bơ vơ
Bốn năm đầm ấm say sưa
Tình yêu có biết hạn bờ nào đâu
Bốn năm nhưng cũng qua mau
Cõi trần ai có ở lâu thiên đường;
Giã từ, từ biệt đôi phương
Đôi nơi, đôi ngả, đôi đường: khổ anh!
Bốn năm, lại khép trời xanh
Nhớ em như một mộng lành mà thôi
Từ đây anh lại trong đời
Bữa cơm ngồi với một đôi đũa cầm;
Giường kia một bóng anh nằm;
Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều.
Muôn vàn cảm tạ em yêu
Chất cho anh biết bao nhiêu ân tình
Ai hay anh đã để dành
ánh hương một thuở, thơm thanh suốt đời
Sống bằng nhớ lại nguồn vui
Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em...
Đứa con của tình yêu
Anh ước đôi ta có con
Con giống em đẹp nhìn không chán
Giống đôi mắt, giống hình gương trán
Con mang tình xán lạn đôi ta
Con giống em, con cũng giống cha
Giống cái mũi thật thà thẳng sống
Nhìn gần giống trông xa cũng giống,
Cũng mái đầu dợn sóng Qui Nhơn.
Nhưng con ta nó giống em hơn
Giống đi đứng, nghĩ suy, ăn nói,
Duy chẳng giống cái nư khi dỗi
Lúc em hờn, trời cũng phải thua.
Muốn hoà kẽ tóc với chân tơ,
Muốn thịt xương ta nở vạn mùa
Em hỡi! Đứa con tình ái ấy
"Tình yêu chưa đã, mến chưa bưa"
Đứng chờ em
Trong buổi chiều hôm bóng nhá nhem
Anh ra trước cổng đứng chờ em
Nhận từng vóc dáng từ xa tới
Lọc lấy một hình anh thuộc quen.
Anh thấy ai ai cũng vội vàng
Như chim hôm thoi thót về rừng
Người đi xe đạp đăm chiêu lắm
Nghĩ bếp nhà đang lửa bập bùng.
Anh cũng chăm xong cái bếp nhà
Tâm thành cơm nước dọn bưng ra
Một tuần mong đến hôm nay tiếp
Vào bát cho em vị đậm đà
Nhưng bóng hoàng hôn đặc lại rồi
Hình em anh thuộc thế mà - ôi!
Mấy phen suýt nữa reo "Em đến"
Lại ủi an lòng: "Hãy đợi thôi!"
Anh đứng như trồng, chẳng chịu đi
Nhớ nhung vun được đức kiên trì
Anh nhìn nét mặt người qua vội
Thông cảm muôn đời những biệt li.
Nếu thức ăn kia gắp một mình,
Tủi lòng, anh vẫn vững lòng tin.
Thương em vất vả, anh quên hết
Nỗi khổ mong chờ cháy dạ anh.
(18-3-1976)
Đàn
Em nâng đàn tới ngang mày
Và em hạ xuống vừa tay, ôm đàn
Ngón tay em nhạc chứa chan
Mến tuôn trên phím, yêu tràn vào dây.
Lâng lâng hồn nhạc hây hây
Đôi ta chắp cánh bạn bầy cùng mơ
Chim reo trong khoảng hoa thưa...
Suối tuôn róc rách, trăng vừa lên cao...
Tình cảm ấy, ước mơ nào,
Bíttôven với ngọt ngào Môda
Tay em thoắt biến thành hoa,
Hồn em lắng lại như là tặng anh.
Những khi xa cách một mình,
Nhớ đàn em, nhớ hồn thanh cây đàn
Thân Thị Thuý Mơ @ 20:39 02/12/2011
Số lượt xem: 903
Số lượt thích:
0 người
- Chữ tữu trong truyện Kiều (02/12/11)
- Bích Khê (25/11/11)
- Cái thuở ban đầu của Nguyễn Bính (25/11/11)
- Nhà thơ văn (15/11/11)
- > Nhà văn, nhà thơ, tác phẩm - Việt Nam (15/11/11)

Ghé thăm bạn thân, cuối tuần vui vẻ nha!